HƯ VÀ THỰC

ThuyNguyet-2

Cây đâm chồi nẩy lộc

Hay mùa xuân lại về

Lá chuyển màu vàng úa

Hay tiễn mùa hạ đi

Chợt đêm dài ngày ngắn

Có phải đông không em?

Mà tình chưa kịp đến

Hay em vội ra đi

Vào thời khắc giao thừa

Mừng em thêm một tuổi

Hay là em đánh mất

Một năm trên cõi trần

Cho dù ngàn con sóng

Có ào ạt xô nhau

Dù xuân, hạ, thu,  đông

Bốn mùa cây thay lá

Dù tình có vội vã

Hay ở lại trong ta

Dù mưa khóc, nắng cười

Ta – một mùa miên viễn

05/3/2013
Trần Kim Đức

HÀNH TRANG NGÀY TRỞ LẠI

Phóng tác và chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên

trong tập truyện HÀNH TRANG NGÀY TRỞ LẠI (Xin mời đọc nguyên tác ở đây)

của nhà văn TRƯƠNG VĂN DÂN

 

Đâu phải mọi tuổi thơ đều êm đẹp

Là một ngày con vẫn gọi ba ơi

Là hằng đêm nghe tiếng hát  ru hời

Là những buổi tung tăng vào lớp học

 

Tuổi thơ em là những ngày bên biển

Sáng lang thang bán báo kiếm tiền

Trưa thúng quà và tập sách trong tay

Không có khách em ngồi chăm chú đọc

 

Có nhiều hôm ta thấy em ngủ gật

Bên vỉa hè rạp chiếu bóng  Trưng Vương

Áo mong manh không đủ ấm thân người

Ta khẽ gọi: ”Sao em không về ngủ”

 

Em run run nói: “cố chờ vãn hát

Để bán thêm cho hết số bánh chưng”

Sao cuộc đời lắm nỗi gian truân

Ta định hỏi nhưng đông người không tiện

 

Có buổi sáng ta mua vài trái bắp

Còn tiền thừa ta tặng lại cho em

Lòng tự trọng em dúi tiền trả lại

Đành mua thêm cho hết số tiền thừa

 

Rồi có việc ta phải rời phố biển

Ngày trở về một buổi sáng gặp em

Ta khẽ hỏi:”Em có cần chú giúp?”

“Chú mua hàng là đã giúp nhiều rồi”

 

Chợt một chiều bỗng thấy bóng dáng em

Sơ mi trắng trong chiếc quần đã bạc

Em tung tăng như  trẻ con đi học

Khác mọi ngày ta vẫn hay gặp em

 

Lòng nghi ngại ta bước chân theo dõi

Rồi bàng hoàng… ta cũng biết về em

Quê em ở có dòng sông Côn chảy

Và Bảo ơi! ta nghe kể về em

 

Cha bỏ đi từ khi em lên sáu

Với gánh hàng Mẹ tần tảo nuôi con

Tưởng bất hạnh chỉ đến chừng như vậy

Nào ngờ đâu giông tố của cuộc đời!

 

Trên con đường rong ruổi bán hàng rong

Mẹ bị liệt sau lần tai nạn ấy

Đời đã xô em cận kề vực thẳm

Em không chịu nhìn số phận đi qua

 

Đôi chân em bỗng trở nên mạnh mẽ

Phải kiếm nhiều tiền để nuôi Mẹ ốm đau

Phải bằng đôi tay và chính trái tim này

Mang hạnh phúc niềm vui về cho Mẹ

 

Em mười hai nhưng lớn hơn ta tưởng

Như trái-cây-chín-sớm bởi bão đời (*)

Biết tự trọng giữa cuộc đời ô nhiễm

Biết thế nào là cuộc sống an vui

 

Hạnh phúc là gì ta luôn nhớ mãi

Là những gì đơn giản nhất trong ta

Em cho ta hành trang ngày trở lại

Lòng yêu thương, nhân nghĩa ở nơi này!

                                                                            (Quy Nhơn, tháng 11/2012)

       (*) Từ trong HÀNH TRANG NGÀY TRỞ LẠI của nhà văn Trương văn Dân


Dư Âm Buổi Ra Mắt “Đặc San Xuân Hương Xưa”

              1

            Hương xưa, một trang mạng điện tử, đã nối kết những người yêu mến kỷ niệm xưa ở khắp bốn phương trời, góp nhặt những buồn vui trong ký ức, những khắc khoải khi ở buổi hoàng hôn của cuộc đời, để những người viễn xứ không còn thấy quê hương mờ nhạt trong từng nỗi nhớ, để tìm lại bên nhau, để ngẫu nhiên mà tìm lại những ký ức của một thời hoa mộng mà có khi cuộc đời đi qua vẫn không để lại một dấu vết nào, để rồi sau những vần thơ, những đoạn văn, những bản nhạc… từng cung bậc của cảm xúc làm chúng ta dễ dàng bằng lòng với chính mình.

           Sau hai năm  với sự đóng góp bài vở nhiệt tình của các cộng tác viên và thân hữu trên trang mạng, cộng với sự nổ lực của Ban biên tập Hương xưa, đứa con tinh thần “Đặc san Xuân” của Hương xưa đã chính thức được ấn hành và xuất bản sớm hơn dự định. Đây là tập đặc san đầu tay của huongxua.org, nên nội dung chủ yếu của đặc san này chỉ là những thu góp của mỗi cộng tác viên và thân hữu một bài đã được đăng tải trên huongxua.org, đã từng chia sẻ với nhau về những nỗi niềm, khi thì hoài niệm về ký ức, hoặc những chiêm nghiệm về thân phận con người, về kiếp nhân sinh, có khi là những cuộc tình không trọn vẹn, là những hạnh phúc quá đỗi mong manh, là những được-mất, hợp-tan của cuộc đời như lẽ thường hằng…. để rồi chúng ta tìm về nhau trong sự chia sẻ, đồng cảm để được yêu thương và yêu thương nhiều hơn nữa .

            Trong thời gian qua, chúng ta đã từng gặp nhau trên huongxua.org với những nickname đã trở thành thân quen qua những vần thơ trữ tình; những truyện ngắn, những tản văn cô đọng, đậm sắc thái nhân văn; những giai điệu nhạc sâu lắng với những cảm xúc chân thật để chia sẻ và đồng cảm với nhau. Bây giờ, chúng ta có dịp gặp mặt nhau trong tình thân ấm áp này, những người mà lâu nay “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình” để cùng chúc mừng ấn phẩm Đặc san Xuân Hương xưa đầu tiên ra đời mặc dù không thể không tránh khỏi nhiều điều còn  thiếu sót.

              Chiều ngày 08/12/2012, một buổi chiều với thời tiết thật đẹp, tại Nhà hàng Sông Trăng của vợ chồng anh Văn Công Mỹ, buổi gặp gỡ giao lưu giữa các thân hữu để ra mắt Đặc san Xuân Hương xưa được diễn ra trong không khí đầy tình thân ấm áp của gần 50 người yêu mến kỷ niệm xưa, tay bắt mặt mừng giữa các nhà văn, nhà thơ và thân hữu từ các nơi: Sài Gòn, Long Khánh, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Quãng Ngãi…. Lại càng bất ngờ và vui hơn khi anh Huỳnh Ngọc Tín, từ Uzbekistan, vợ chồng anh Lê Công Dũng, từ Mỹ, cũng về có mặt để dự buổi hội ngộ này. Những lẵng hoa chúc mừng của các thân hữu làm rực rỡ một góc nhà hàng Sông Trăng. Ai cũng trầm trồ ổ bánh của nhà thơ Nguyên Hạ-Lê Nguyễn vượt trùng dương về chúc mừng buổi hội ngộ hôm ấy.

               Bằng giọng trầm ấm của MC Trần Kim Quy cộng với sự bố trí tổ chức thật chu đáo của vợ chồng anh Văn Công Mỹ đã góp phần làm cho buổi tao ngộ thêm phần sôi nổi, hào hứng trong tình thân đầm ấm. Ai cũng vui vẻ, hạnh phúc khi cầm trên tay Đặc san Xuân Hương xưa và lắng nghe giọng nhỏ nhẹ xứ Huế của chị Quốc Tuyên đọc lời phi lộ. Buổi ra mắt đã được các nhà thơ, nhà văn và những người yêu thơ, văn chào đón nồng nhiệt với những tiết mục đọc thơ, ngâm thơ, hát những bản tình ca, kể những mẫu chuyện vui nhộn, những bài hò dô ta…… đặc biệt nhất là nhóm ca sĩ do Hoàng Kim Chi làm trưởng nhóm với ca khúc  “90 năm cuộc đời”, giọng phụ hoạ chủ đạo của  Đông Oanh “có bao nhiêu xài bấy nhiêu” vànhóm nhảy Quốc Tuyên, Nguyễn Tiết, Kim Bồng đã  làm cho không khí buổihội ngộ càng thêm vui nhộn, trẻ trung. Chúng ta vừa nghe các nhà thơ, nhà văn và các thân hữu chia sẻ những cảm xúc khi bước vào Hương Xưa,vừa thưởng thức món đặc sản rất quê hương: bánh bèo và mì Quảng ở Nhà hàng Sông Trăng do cô chủ bút Hương Xưa thết đãi.

             Buổi giao lưu ra mắt Đặc san Xuân Hương xưa rồi cũng khép lại, và đểlại những dư âm thật đẹp trong lòng quý thân hữu với nhiều cảm xúc khác nhau, nhưng hy vọng tất cả đều còn đọng lại sự đồng cảm đã từng được nối kếtqua huongxua.org. Thật đáng tiếc, có một số tác giả trong trang mạng huongxua.org đã thiếu vắng trong đặc san này, nhưng dù sao Đặc sanXuân Hương xưa cũng là món quà tinh thần thật ý nghĩa trong dịp Xuân Quý Tỵ mà Hương xưa gởi đến chúng ta.

            Tôi thầm cám ơn những người đã bỏ rất nhiều công sức để lập nên trang mạng Hương Xưa, cùng Ban biên tập và các admin đã rất nổ lực đểấn hành cuốn đặc san rất trang nhã và tạo cho những người yêu mến kỷniệm xưa có một nơi để dừng chân tìm lại những giây phút bình yên nhất sau những hối hả ngược xuôi của dòng đời.Tôi cũng thầm mong ước Hương Xưa ngày càng thắt chặt tình thân hơn nữavà cứ mỗi độ Xuân về, chúng ta lại có cơ hội ngồi lại với nhau trong tình thân  ngày càng đông hơn, vui hơn.

GÒ LĂNG CẢM TÁC

Gò Lăng ở  Phú Lạc là quê mẹ của ba anh em nhà Tây Sơn. Nơi đây trước kia đã có những lăng miếu để thờ  phượng nhà Tây Sơn.  Sau khi lật đổ Triều Nguyễn Tây Sơn, trong việc trả thù tàn khốc của Triều Nguyễn Gia Miêu có việc tàn phá những lăng miếu này, công trình đổ nát vun thành “ gò đống”  nên từ đó mới có tên gọi là Gò Lăng.

DSC08355

Ảnh chụp Gò Lăng (tháng 4/2012)

Năm 1988 Gò Lăng đã được Chính phủ công nhận là di tích lịch sử .

Xưa kia, ở Tây Sơn còn có  một khu Gò Lăng nữa ở Phú Phong, vốn là lăng miếu thờ nữ Đô đốc Bùi thị Xuân, nay đã được qui hoạch thành khu đô thị và dân cư.

Nhân một buổi về quê chồng (Tây sơn) dự đám giỗ, sang Phú Lạc thăm người em họ, được chú em đưa đi xem khu di tích Gò Lăng. Một chiều cuối tháng 3 âm lịch mà cây mai khẳng khiu trong vườn Lăng vẫn còn trổ những bông hoa, khi nắng chiều săp tắt, nghe kể về sự tích Gò Lăng lòng bỗng thấy bâng khuâng …..

 Một buổi hoàng hôn trước Gò Lăng

Nắng chiều chưa kịp tắt bên thềm

Vương Triều ngày ấy còn đâu nữa

Lăng miếu, đền đài cũng nát tan

Vụn vỡ chồng lên những nỗi đau

Gò Lăng – Phú Lạc mãi ngàn sau

Xót thương cho kiếp người ngắn ngủi

Sự nghiệp hào hùng chỉ mấy năm

Còn – mất,  hơn – thua, được những gì

Ngọn gió vô thường cứ mãi đi

Sông Côn lặng lẽ bên đời chảy

Người chưa trọn kiếp,  huống chi lăng

                                             Tây Sơn – Quy Nhơn (tháng 4/2012)

Tà áo lụa giữa những cánh sen

Một cảm giác thật bình yên khi đọc: ”Tà áo lụa giữa những cánh sen” của Elena Pucillo Truong là tiến sĩ ngữ văn người Ý do  nhà văn Trương văn Dân dịch. Tôi có cảm giác như nội tâm mình đang hoà hợp vào vị thanh tao, nồng nàn và ấm áp của tách trà sen, bỗng thấy lòng mình lắng lại, mọi tất bật, quay quắt với dòng đời dần dần tan biến. ”Tôi có cảm giác là thời gian đã ngưng lại trong khoảnh khắc đó: Chẳng quan trọng là mình đang ở đâu, đang làm gì, ở đây không có chỗ cho quá khứ với những muộn phiền mà cũng chẳng còn chỗ cho tương lai với bao ẩn số.”. Phải chăng những hương vị đắng, chát, ngọt ngào, nồng nàn, ấm áp của tách trà sen cũng như ý nghĩa của cuộc đời này vậy.

Đặc biệt qua tác phẩm này, nhà văn Elena đã giới thiệu về đất nước Việt Nam với những đặc trưng đậm chất quê hương: hàng dừa cao/màu xanh của lúa/ngôi mộ cổ/ mái chùa/đàn gà cục tác/tà áo dài/hoa sen/trà sen/bánh đậu xanh, … như cả một tình yêu quê hương mình tha thiết, vì ở đó Elena còn có tình yêu Trương văn Dân nữa….

Xin được giới thiệu Tà áo lụa giữa những cánh sen

Nguyên tác: Un lembo di seta tra i fori di loto Của Elena Pucillo Truong

( Bản dịch của Trương Văn Dân)

Không khí ngạt thở bởi giao thông trong các thành phố lớn. Đó là cảm giác đầu tiên khi ghé thăm một đô thị lớn dù là Á hay Âu, ngạt thở vì hơi nóng, bụi bặm, khí thải từ các phương tiện giao thông,  khó chịu vì tiếng ồn ào của xe cộ và tiếng còi xe. Tôi nhận ra là sống trong điều kiện ấy, dần dà người ta phát triển được khả năng thích ứng, giống như một sự cam phận.

Người ta làm quen và chịu đựng tất cả mọi thứ, dù lúc ban đầu không thể nào chấp nhận, thế mà về sau lại xem những vấn nạn đó như là điều hiển nhiên trong thế giới này. Nghĩa là tôi cũng quen dần với những tiếng ồn ào của xe cộ, với những phố xá đông người. Khi trở về Ý, ở một thị trấn nhỏ yên tĩnh hơn,  thật là vô lý, tôi lại thấy thiếu vắng đám đông người, thiếu vắng những tiếng động và mùi vị của Sài Gòn. Rồi khi trở lại Việt nam, những thứ mà tôi cảm thấy “nhớ” kia lại xuất hiện và hằng ngày vây bủa lấy tôi.

Ở Ý, bạn bè rất nhiều người tò mò hỏi tôi là Việt Nam như thế nào, một đất nước xa xôi, khác biệt về khí hậu, ngôn ngữ và tập quán. Thường thì tôi nói về đời sống vô cùng khác biệt trong các thành phố lớn như Hà nội hay Sài Gòn so với các thôn xóm nằm giữa ruộng đồng bát ngát, khuất sau những luỹ tre xanh và các hàng dừa cao. Tôi luôn nói thêm là tôi rất nhớ màu xanh của lúa, các màu sắc của đồng quê, đây đó nổi lên một ngôi mộ cổ hay hiện lên một mái chùa, những ngôi nhà tranh có đàn gà cục tác hay các ao hồ có đàn vịt bình yên bơi lội. Nhưng cũng có lúc tôi nói với các bạn về sự giao thông hỗn loạn, rất giống nhau giữa các thành phố lớn, như Napoli ở Ý thì  chẳng khác Hà Nội là bao!

Ở Ý, hầu như suốt cuộc đời tôi luôn luôn là một cuộc chạy đua với thời gian. Đời sống hối hả, lúc nào cũng cuống cuồng: đi học, đi dạy, đi làm, tiếp xúc với mọi người trong cái nạn kẹt xe khốn khổ, nhiều khi ngồi bất lực một mình trong xe hơi, xung quanh được bao vây bởi những chiếc xe bất động khác. Chiếc đồng hồ trên tay tôi luôn được chỉnh nhanh hơn 15 phút để tránh việc đến nơi hẹn trễ. Luôn luôn “xung kích”, không bao giờ ngừng nghỉ.

Về sống ở Việt nam có làm chậm tốc độ sống phần nào, nhất là thời gian đầu, nhưng sau này nhịp sống hối hả cũng bắt đầu xâm nhập ở nơi đây rồi!

Một buổi chiều, sau khi xong giờ dạy ở trường đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, vừa bước vào nhà thì chồng tôi nhắc:

- Tối nay mình còn phải đi gặp các bạn nữa đó!

Chỉ có một ít thời gian để thay quần áo và chúng tôi đã ngồi lên xe máy. Sự giao thông thường lệ vào buổi chiều… rồi đây, chúng tôi sắp đến, rẽ qua một con hẻm nhỏ sau lưng Đài Truyền Hình thành phố và dừng lại trước một bảng hiệu có ánh đèn.

Tôi chẳng biết điều gì đang xảy ra: có một điều gì đó khác thường! Chỉ mới vừa lách qua một con hẻm mà tôi đã thấy như mình đã ở rất xa phố thị.

Ngồi trên căn gác có thành chắn làm bằng gỗ tre, những người bạn mời chúng tôi đi lên. Chỉ khi ngồi xuống chiếc băng dài làm bằng gỗ màu nâu sậm tôi mới nhận biết là mình đang ở đâu: một trà quán; trên các bức tường có treo các bức thư pháp viết trên các nan tre, nội dung về thiền trà và Phật giáo. Khi nhìn bức tượng Phật thật lớn đang ngồi kiết già thiền định ở trước mặt lòng tôi bỗng cảm thấy bình yên.

Người bạn mời chúng tôi đến đây là nhà văn Nhật Chiêu, hiện đang giảng dạy văn học ở trường Đại Học KHXH và Nhân Văn, người rất nổi tiếng về những tác phẩm văn chương và các công trình nghiên cứu về văn học Nhật và Anh. Đó là một nhà văn uy tín có tài năng nhưng rất khiêm tốn. Có lẽ nhờ bản tính hiền hậu nên ông được bạn bè ái mộ và có nhiều sinh viên quý mến.

Từ nhiều năm Nhật Chiêu là người bạn rất chân tình của chúng tôi và tôi tin không phải là một sự tình cờ mà hôm nay chúng tôi gặp gỡ ở đây. Bằng sự minh triết và ôn hoà, dường như ông muốn giới thiệu với tôi những điều tôi chưa biết.

Chính Nhật Chiêu đã giới thiệu tôi với bà Viên Trân bà chủ thiền trà, mà mới đầu tôi tưởng là một nữ đạo sĩ. Đó là một thiếu phụ có khuôn mặt dịu hiền, trong sáng và bình an. Bà mặc một chiếc áo dài bằng lụa mỏng có hai tà áo bay lất phất và thướt tha. Rất nhiều năm đã sống ở Việt Nam nhưng tôi không lúc nào không hâm mộ chiếc áo dài  truyền thống của đất nước này. Nhiều năm trước, lúc mới quen chồng tôi, khi đó là một chàng sinh viên mới sang Ý du học, anh đã kể cho tôi nghe rất nhiều điều: Nhiều lần lấy xe máy chạy ra cổng trường nữ trung học lúc tan trường để chờ các nữ sinh: Một biển người thướt tha trong chiếc áo dài tinh khôi, hai tà áo trắng cùng với mái tóc huyền tung bay theo gió. Một hình ảnh đến giờ vẫn còn làm tôi xúc động là khi nhìn thấy các  cô gái mặc áo dài trắng, thong thả dắt chiếc xe đạp trước cổng trường.

Chồng tôi rất thích nhìn phụ nữ mặc áo dài. Anh nói  thoạt nhìn trông nó cũng tương tự như các loại trang phục của các đất nước Á châu khác, thế nhưng khi trời có gió hay người mặc nó chuyển động, hai tà áo ve vẩy phất phơ  làm bước đi của người đàn bà  thanh thoát và uyển chuyển.

Tôi cũng có chiếc áo dài đầu tiên của mình khi về Việt Nam lần đầu để tổ chức đám cưới vào năm 1985. Mấy năm sau, đi dự đám cưới của hai người bạn Ý ở Milano, tôi cũng thấy cô dâu mặc áo dài mà cô đã  rất thích và đặt may trong một chuyến du lịch ở Việt Nam. Đó là kiểu áo, mà như tôi đã nói, người phụ nữ  nào có cơ hội mặc nó sẽ cảm thấy mình là một bà hoàng. Dù nó chỉ có một màu hay có được thêu những hoa văn  tuyệt đẹp hay không, nó vẫn luôn lịch sự và quyến rũ.

Và chiếc áo dài mà bà Viên Trân đang mặc cũng thế: được may bằng lụa có pha những sợi tơ óng ánh, bà còn lịch sự quàng một chiếc khăn trên cổ, nút thắt hờ, làm nổi bật màu xanh da trời của tơ lụa. Giọng nói của bà nhẹ nhàng, ngọt ngào và thanh thoát như tiếng đàn tranh của một cô gái  mảnh mai đang gẩy cùng với một thầy dạy đàn tranh, nhà thơ Lê Mộng Thắng. Ông ngồi  xếp bằng trên chiếc chiếu đặt trên nền nhà với nhạc cụ của mình. 

Tôi ngồi quan sát các cử chỉ thành thạo và điệu nghệ của bà Viên Trân lúc pha trà. Mỗi loại trà được chọn lựa tuỳ theo khoảnh khắc thích hợp chứ không phải tình cờ.

Bà Viên Trân giải thích là bà đang chọn trà tẩm hương sen, rồi thông cảm với vẻ tò mò của khách, bà đưa cho tôi một búp sen có những cánh vừa hé mở, bên trong có một nhúm trà và đỉnh hoa được cột lại bằng một sợi vải. Bằng cách đó, sau một thời gian trà sẽ được tẩm hương sen và toả ra trong bình trà lúc được pha nước nóng. Trong lúc quan sát các cử chỉ thành thạo của bà từ lúc châm nước sôi vào bình trà, bỏ trà vào, châm thêm nước sôi rồi sau một lúc, đổ đi. Sau hai lần như vậy bà mới châm nước sôi vào bình trà, đậy nắp và đặt giữa những chiếc tách nhỏ đã chuẩn bị từ trước.

Căn phòng lúc này thoang thoảng hương sen. Không gian yên tĩnh và thanh thoát còn thú vị hơn từ những lời trò chuyện nhẹ nhàng, từ  tiếng cười đầy tính bạn bè được đệm bằng tiếng nhạc êm dịu của hai chiếc đàn tranh. Cả thầy và trò cùng dạo nhạc và có một lúc, nhà thơ Lê Mộng Thắng còn cao hứng buông đàn để ngâm Kiều và mấy bài cổ thi, giọng ngâm ấm áp của ông được cô học trò điểm nhẹ bằng vài tiếng đàn tranh.

Trước khi uống trà, bà Viên Trân rót cho mỗi người một chén rượu nhỏ rất thơm. Bà nói đó là thứ rượu sen do mà bà tự làm, theo một công thức từ đời Trần, cách nay mấy thế kỷ. Tôi không quen uống rượu, nhưng vì tò mò và không muốn mất một chút gì trong giây phút đặc biệt nầy nên cầm lấy chén rượu nhỏ bà đưa. Hơi nóng của rượu lan khắp toàn thân lúc tôi nhấp những giọt cuối trên môi.

Chỉ sau khi mọi người uống cạn chén rượu sen bà Viên Trân mới bắt đầu chiết trà ra các tách nhỏ đang đặt thành vòng tròn trên mặt bàn. Tia nước từ vòi của ấm trà như đang vẽ một đường cong liên tục trong không gian, lên xuống nhịp nhàng từ tách đầu đến tách cuối. Bằng một động tác thật thuần thục, cổ tay thon mềm của bà chuyển động nhẹ đến nỗi như không thể nào nhận biết, bà chiết đầy trên tất cả các tách trà. Tôi có cảm giác là thời gian đã ngưng lại trong khoảnh khắc đó: Chẳng quan trọng là mình đang ở đâu, đang làm gì, ở đây không có chỗ cho quá khứ với những muộn phiền mà cũng chẳng còn chỗ cho tương lai với bao ẩn số.

Không. Chỉ còn lại khoảnh khắc vô tận này, khi tôi ấp tách trà nóng ngào ngạt hương sen giữa hai lòng bàn tay. Tôi cảm nhận được tất cả những cảm giác của mình. Một niềm xúc động sâu xa, có mang theo hậu vị thơm ngon từ chén rượu sen vừa nhấp. Hơi nóng của trà lan khắp toàn thân, và đó là một điều gì rất lạ, tuy rất “vật lý”, bên ngoài mà hình như đã mang lại cho tôi một sự bình an ở bên trong. Đó chính là niềm vui khi nhận một món quà không mong đợi, một thứ hơi ấm của tình người, có những người bạn quây quần bên nhau.

Biết bao điều tôi học được trong tối ấy! Tôi nhớ là sau đó bà Viên Trân đã mang ra mấy chiếc bánh đậu xanh mà chúng tôi nhâm nhi lúc uống trà.

Tôi còn gặp những người bạn quý và bà Viên Trân vào những lần khác trong quán trà, chúng tôi đã trao đổi rất nhiều chuyện quanh ấm trà làm khép lại những cánh hoa sen và tách trà ngào ngạt hương thơm, thế nhưng lần nào tôi cũng đều sống lại và cảm nhận cái không khí thân tình và thanh thoát đó.

Sự hài hoà của âm nhạc, của lời nói thân tình, sức nóng và mùi vị đặc biệt của rượu sen được đưa lên khi tiếp xúc với trà nóng, chiếc bánh đậu xanh, tiếng xào xạc và màu sắc quyến rũ của những tà áo dài, sự thanh thản của giây phút sống bên cạnh nhà văn Nhật Chiêu, bà Viên Trân cùng các người bạn khác như nhà thơ Lê Mộng Thắng, nhà báo Ngân Hoa… chính là lý do làm tôi rất yêu mến đất nước này. Dù đã nhiều năm sống ở đây nhưng với tôi, lúc nào tôi cũng cảm thấy là còn nhiều điều cần phải khám phá. Và kinh ngạc.

Elena Pucillo Truong  Saigon 7-2012

ĐAN TÌNH

Trong một lần đến chơi nhà người quen ở Xóm biển, Khu 2,  thấy vợ chồng Nga (em chị Lại) ngồi đan lưới, nhìn tay Nga thoăn thoắt luồn ghim (thoi) đan qua từng ô lưới, kéo căng sợi cước rồi thẳng tay giật mạnh từng gút một. Mình hỏi sao phải làm vậy, Nga nói phải gút thật mạnh thì cái gút mới chặt, các ô lưới mới liên kết lại, lưới mới dẻo và chắc. Cô còn nói phải giấu các mối nối cho khéo mới đẹp. Còn chồng Nga thì ngồi bên cạnh, tháo gỡ từng sợi cước trong cuộn to để quấn vào ghim đan;  vợ dùng ghim đan đã cuộn sẵn cước để đan. Thích quá, thấy hai vợ chồng Nga vừa đan lưới, vừa trò chuyện rất tình tứ, mình xin hai vợ chồng Nga  cho mình chụp tấm ảnh để làm kỷ niệm, hai vợ chồng cười thật tươi và nói: “Ó! Chị chớp đi, nhưng đở làm chi dẩy chị?”. Thật dễ thương!

 Anh tháo từng sợi cước

Quấn chặt vào ghim đan

Như quấn từng sợi nhớ

Quyện hồn anh một đời

 Em thoăn thoắt đưa tay

Đan qua từng ô lưới

Thắt chặt từng mối gút

Như sợ tình phôi pha

 Em miệt mài đan nhanh

Còn khéo tay giấu mối

Như lần anh giận dỗi

Em giả vờ ăn năn

 Có những hôm lưới rách

Em vội vàng vá ngay

Như sợ tình tan vỡ

Như sợ chừng mất nhau

 Mong manh từng sợi nhỏ

Em kết  thành lưới to

Thả vào lòng biển rộng

Hoà mình cùng bão dông

 Mong manh sợi yêu thương

Em đan thành hạnh phúc

Giữa biển lớn tình yêu

Hãy giữ tình son sắt

TẠ ƠN NGÀY CÓ TA

Cảm ơn Người đã cho ta

Đi hoang vào cõi nhạt nhoà buồn vui

Bước vào từ buổi cuối thu

Rong chơi lời hát, lời ru muộn phiền

Ngàn tia nắng, chút bình yên

Thênh thang vào cõi vô thường hợp tan

Cõi trần chật hẹp phù vân

Vẫn giang tay đón cuộc tình trăm năm

                                                       (Tự mừng sinh nhật  29/10)

Bạch Xuân Lộc tặng sinh nhật Kim Đức

Vui vầy tình cuộc trăm năm,
Quên đi khốn khó nặng oằn của nhau.
Hạnh hôm nay, phúc mai sau,
Không quên ơn đức công dày Mẹ Cha.
Nhờ Người mới có thân ta,
Cho ta vào chốn hát ca với đời.
Để khi bóng ngã bên đồi,
Đạo nhân hiếu trọn,chân trời hư vô.

Thu Thuỷ tặng sinh nhật Kim Đức

Đời đẹp hơn, vì có em
Cõi hồng trần được thêm vào bước chân
Ngày cuối thu trời lâng lâng
Gót hài đi nhẹ bâng khuâng vào đời
Ngày dài thỏa thích rong chơi
Lắng nghe người hát những lời yêu thương
Chốn trần gian, cõi vô thường
Lời yêu em mãi ngát hương đêm nào

Khảo Mai tặng sinh nhật Kim Đức

Chào đời một buổi cuối thu
Cảm ơn Mẹ đã hò ru vỗ về
Trần gian một kiếp đam mê
Con đi chập chững ngô nghê vào đời
Người nâng bước dắt chẳng rời
Con thành nhân bởi những lời mẹ đơm
Đường con cỏ lạ hoa thơm
Vòng tay độ lượng ôm con thật thà.

KHOẢNG LẶNG

Có những khoảng lặng mượt mà, sâu lắng,

Là  nốt lặng – trầm trong bản tình ca.

Có những khoảng lặng nồng nàn, ngây ngất,

Là phút giây ta có ở bên nhau.

Có những khoảng lặng thanh thản, bình yên,

Là những phút lắng lòng tâm thanh tịnh.

Cũng khoảng lặng chiều nay, mưa chợt tắt,

Gió bỗng ngừng, một chút nắng hanh hao,

Nỗi âu lo cơn bão đến khi nào?

Phải đối mặt như cuộc đời giông tố!

                        Quy Nhơn  (15h00, 06/10/2012)

Gió bỗng ngừng, mưa chợt tắt, khi tin thời tiết báo chiều  tối nay bão số 7 sẽ đổ bộ vào Bình Định – Phú Yên.

 

ĐỜI MONG MANH LẮM, HÃY YÊU NHAU…

(Vài cảm nhận khi đọc “BÀN TAY NHỎ DƯỚI MƯA”,
tiểu thuyết của nhà văn TRƯƠNG VĂN DÂN.
Cty văn hóa Phương Nam – Nxb Hội Nhà Văn, 2011)

Gấm, nhân vật chính trong truyện với số phận bế tắc, đã trải qua hai đời chồng không hạnh phúc, có một cô con gái tên là Liên. Gấm luôn khao khát một tình yêu đích thực, đi tìm một nửa của đời mình. Và đến gần bốn mươi tuổi, Gấm cũng đã tìm được một nửa mình đã mất. Cô đón nhận hạnh phúc với người đàn ông là nhà báo đã có vợ nhưng vợ và con đã chết trước khi gặp Gấm. Tưởng đã gặp một tình yêu đích thực và hạnh phúc bên nhau đến trọn đời, nào ngờ Gấm tiếp tục đón nhận những éo le của số phận đời mình với căn bệnh ung thư “ Những tháng ngày hạnh phúc vừa qua rồi sẽ tan biến trong khoảnh khắc”.

Tình yêu mà Gấm đã dành cho người đàn ông nhà báo là tình yêu hiến tặng, họ luôn mang đến hạnh phúc cho nhau từng ngày, từng giờ. Với họ không có thứ tình yêu hệ lụy. Tình yêu đã làm cho Gấm quên đi những khổ đau của đời mình: “Khi sống với nhau, Gấm thường cho mình yếu đuối, nhưng thật ra nàng là người đàn bà lãng mạn và can đảm nhất trần gian. Cho đến phút chót, nàng đã không chạy trốn mà còn thách đố với đời để giành lấy tình yêu từ tay thần chết, dâng hiến cho người tình một cuộc ái ân vừa cuồng say vừa đầy nước mắt, hương vị đậm đà cho đến giọt cuối cùng của niềm hoan lạc.

Rồi vĩnh viễn yên nghĩ trong vườn địa đàng.

Vì yêu thương mà sợ mất mát. Và vì biết mất mát nên càng muốn hiến dâng. Khi ý thức được đời sống của mình mong manh quá nên Gấm muốn trao tặng cả bản thân cho một tâm hồn đồng điệu rồi ra đi chẳng có hối tiếc gì”

Cả hai đều  đón nhận một tình yêu đích thực, họ biết xoa dịu lẫn nhau, thấu hiểu lẫn nhau để tìm đến đỉnh cao của hạnh phúc:Vậy đó, anh có một khả năng hóa giải rất đặc biệt. Nỗi buồn chưa kịp định hình thì anh đã làm cho tan biến. Đang có điều lo lắng, ưu tư, anh bước đến ôm đầu tôi, áp hai trán và hai đỉnh mũi chạm vào nhau để làm tôi bật cười. Thế là nỗi lo bay đâu mất”

Tình yêu là nghiệp ái, cuộc đời này là vô thường, hạnh phúc rồi cũng như giọt sương, rất đỗi mong manh, dễ tan vỡ. Chuyện hợp tan là do nhân duyên, vì thế mà họ rất trân quý và đón nhận tình yêu trong từng ngày, từng giờ. Họ luôn tha thứ cho nhau và chấp nhận nhau mà sống thật trọn vẹn hạnh phúc với một nửa mình tìm thấy: ”..Tôi cảm nhận ngay điều đó từ những phút đầu tiên. Cảm giác mơn man khi vừa gặp một người mà như đã thân quen. Cuộc sông vốn lạnh lùng với những quan hệ hời hợt trong công việc, thân thiện mà xa cách…còn chúng tôi như đi vào đời nhau, bước vào thế giới riêng tư bí mật không rào, không đón. Cảm giác thuộc-về đã nhen lên ngọn lửa ấm áp từ ngày đầu tiên… rồi nàng cảm phục… và tôi cũng trải lòng cho người mình thương mến. Và cứ như thế…. chúng tôi yêu nhau như hai dòng suối hòa lẫn vào nhau, biến thành một dòng sông êm đềm có chung dòng chảy…”.

Họ đã nuôi dưỡng tình yêu của mình bằng tâm “bất sinh, bất diệt”, để yêu thương và sống thật hạnh phúc bên nhau, vì :Chỉ trong tình yêu, con người mới tìm ra lẽ sống của mình. Bởi chết vì tình yêu thì đâu có nghĩa là chết. Mà chỉ là hiến dâng. Là cái chết trong muôn lần chết. Và tình yêu sẽ đi vào cõi vô sinh vô diệt”. Thật diệu kỳ!

Thoạt đầu, tôi đã bị lôi cuốn bởi lời  giới thiệu trong cuốn tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa”của nhà văn & dịch giả Nhật Chiêu:Cái phong vị nồng thắm của tác phẩm nằm trong những nghịch lý mà nó muốn hóa giải: sống-chết, khổ-lạc, sáng-tối, mất-còn, ngã-tha, cũ-mới, tự nhiên-văn minh, vô thường-vĩnh cửu….

Chọn điều này sẽ phải bỏ điều kia và như vậy khác nào đánh mất cả hai?

Nhân vật và người kể chuyện muốn vượt qua vô vàn tình huống phân biệt đó để trải nghiệm cái nhất như hoan lạc, một tư tưởng nhuốm màu sắc Phật giáo, đặc biệt phảng phất kinh Duy Ma”

Nhìn thẳng vào sự trần trụi  như vốn đã có trong cuộc sống thực của con người mà không qua lăng kính của định thức, con người ngoài bản năng còn có ý thức, những cuộc ái ân mặn nồng, hoan lạc  vốn là bản năng trần tục của con người nhưng khi tình yêu thăng hoa đã  gắn kết hai thân xác với nhau như chỉ còn lại một hình hài duy nhất nó sẽ trở thành một bản thể tốt đẹp, cái mà triết học Đông phương gọi là âm dương hòa hợp:Trong phút giao hòa ấy, chúng tôi tưởng như chỉ còn lại một hình hài duy nhất. Hai xác thân từ trong tiền kiếp bị chia lìa giờ hòa làm một, xác thịt quay cuồng trong bão tố, nạp nguồn nhiên liệu từ ngọn lửa tràn đầy sinh lực của khát vọng. Tôi ôm lấy Gấm, cả hai tận hưởng dư vị của trái cấm trong cảm giác say sưa. Rã rời và buông thả. Hình hài quằn quại như đớn đau nhưng hoan lạc vươn lên đỉnh điểm”.

Tình yêu đã giúp cuộc sống của họ thăng hoa giữa một xã hội buộc con người phải chạy đua với mọi thứ. Nói đến đây tôi lại nhớ đến lời bài hát của Trịnh Công Sơn: ”Một ngày tình cờ biết em là ngày lạ lùng biết trần gian”. Biết em rồi mới biết trần gian, đó cũng là cái tội của Eva đã nghe lời con rắn quỷ quyệt dụ dỗ ăn trái cấm là trái biết thiện, biết ác và dụ dỗ Adam cùng ăn. Tưởng là ăn trái cấm rồi sẽ biết đâu là  thiện-ác, đâu là tốt-xấu, tưởng là sẽ được khôn ngoan, hạnh phúc, nhưng sau khi ăn xong Eva và Adam tự thấy xấu hổ và lấy lá che lại. Suy cho cùng, thiện hay ác, đẹp hay xấu,…  là do con người quy định. Cuối cùng họ phải rời khỏi vườn địa đàng và cũng từ đó  có chốn trần gian với hỷ, nộ,  ái, ố, lạc, dục  đầy bất trắc. Tác giả đã chuyển tải các vấn đề rất mạch lạc, từ sự gian tham, tàn ác và dục vọng của con người, con người đã tự hủy hoại những cái hay, cái đẹp, phá hoại cái gốc tự nhiên vốn có của mình và  môi trường :Nếu xưa kia các nền văn minh cổ đại đều xem là thiêng liêng, là các yếu tố căn bản của sự sống thì nay tất cả đất, nước, khí, lửa  đều bị ô nhiễm và toàn bộ hệ sinh thái đang bị rối loạn sự cân bằng. Bác nghĩ là trong sự hỗn loạn đó, chỉ cần một tế bào bị nhiễm độc thôi là sẽ không hoạt động bình thường, mà đột biến lớn lên như vũ bão và trở thành một khối bầy nhầy, de dọa và triệt tiêu cuộc sống. Hiện nay chúng ta có rất nhiều căn bệnh mới vì sự sống bị đảo lộn và càng ngày càng có nhiều hệ động- thực – vật tuyệt diệt, không thể tái sinh. Thế mà khi đọc các tài liệu về cách phòng ngừa ung thư, người ta còn khuyên chúng ta hãy sống trong môi trường sạch đẹp, bầu không khí trong lành. Thật là mỉa mai! Vậy chúng ta, con người hiện đại sẽ tìm đâu để có được một điều kiện sống như vậy?..”.

Quay cuồng trong cơn lốc bạo tàn của định mệnh, dù đớn đau vật vã trong một thế giới gian tham lam, ô nhiễm… thế nhưng Gấm và người tình vẫn đấu tranh, chấp nhận và tha thiết yêu  thương: Một tình yêu mãnh liệt mà đọc lên ai cũng phải thèm khát với những trang viết về sự hoà nhập giữa thể xác và tâm linh đầy cảm xúc và cực kỳ linh động.

Tôi nghĩ, Trương văn Dân đã đưa tình dục vào tác phẩm văn học là để nói đến cái gốc tự nhiên của con người, nói lên sự thánh thiện của tình yêu, bộc lộ sự giải tỏa những ức chế và sự cô đơn trong cuộc sống, để trở về sống với con người thật của chính mình. Hơn nữa để lột trần sự thật  mà con người thường cứ cố né tránh, không dám nhìn vào sự thật như cái thực của tình yêu ở cõi trần gian:”Cảm ơn em, vì nhờ có em mà anh hiểu được một tình yêu vừa thánh thiện vừa mê say trên cõi đời này là có thật. Tình yêu đó vừa nhẹ nhàng vừa mãnh liệt, vì chúng mình đã yêu nhau trong ý thức, trong vô thức và cả trong tiềm thức. Tình yêu đó đã mở tung cánh cửa tâm hồn và thể xác để cho tất cả cảm xúc tình yêu ào ạt tràn vào. Và, đúng không em, như thế đã là quá đủ để anh có thể an ủi mình rồi bước đi trên thế gian này trong tháng ngày còn lại, cho đến khi nằm xuống”.

Cảm nhận này là một cách đọc của riêng tôi với tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Nhà văn Trương văn Dân đã làm cho tôi nhận ra được nhiều điều trong cuộc sống để đạt đến sự an vui và tự tại.